Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    ÔN THI VÀO LỐP 10

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Nhà thơ CHÍNH HỮU

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thìn (trang riêng)
    Ngày gửi: 22h:18' 25-03-2014
    Dung lượng: 72.0 KB
    Số lượt tải: 8
    Số lượt thích: 0 người
    Nhà thơ CHÍNH HỮU

    Thơ Chính Hữu có cái nghiêm ngắn của "nhà binh", nhưng không khuôn cứng. Nó vừa là cảm xúc, vừa là trí tuệ. Mặc dù rất kiệm lời nhưng đọc thơ Chính Hữu, ta vẫn thấy đậm hơi thở thời đại, đồng thời thấy được phần nào chân dung tác giả. Thơ Chính Hữu luôn cho ta cảm giác, đằng sau những con chữ là một người sâu sắc, kinh lịch việc đời.
     Nhà thơ CHÍNH HỮU  
    Chính Hữu tên thật là Trần Đình Đắc, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1926 mất ngày 27 tháng 11 năm 2007, quê huyện Can Lộc nay là huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Ông  nguyên là Đại tá, Phó cục trưởng cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục chính trị, Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Phó tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam. Ông học tú tài (triết học) ở Hà Nội trước Cách mạng tháng tám. Năm 1946, ông gia nhập Trung đoàn Thủ Đô và hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ. Năm 1947 ông làm Chính trị viên Đại đội; sang năm 1949 đến 1952 là Phó trưởng ban Văn nghệ quân đội. Tại chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, Chính Hữu làm Chính trị viên Tiểu đoàn, thuộc Sư đoàn 308 lừng danh bách chiến bách thắng!   Sau hoà bình 1954 ở Miền Bắc, Chính Hữu giữ chức Phó Cục trưởng Cục tuyên huấn, thuộc Tổng cục Chính trị quân đội nhân dân Việt Nam. Những năm sau này, khi đã chuyển ngành, Chính Hữu từng giữ chức Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khoá III rồi Uỷ viên BCH Hội Nhà văn Việt Nam khoá IV. Ông làm thơ từ năm 1947 và hầu như chỉ viết về người lính và chiến tranh. Tập thơ Đầu súng trăng treo (1966) là tác phẩm chính của ông. Bài thơ "Đồng chí" được in vào tháng 2-1948. Thơ ông không nhiều nhưng lại có nhiều bài đặc sắc, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hình ảnh chọn lọc, hàm súc. Ông đã sáng tác bài thơ "Đồng chí" mà sau này đã được phổ nhạc cho bài hát "Tình đồng chí". Bài hát đã khơi dậy những xúc động mạnh mẽ trong lòng nhiều thế hệ . Ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật đợt hai (năm 2000)   Tác phẩm: Đầu súng trăng treo (tập thơ, NXB Văn học, 1966) Thơ Chính Hữu (tập thơ, NXB Hội nhà văn, 1997) Tuyển tập Chính Hữu (NXB Văn học, 1998)   NHÀ THƠ CHÍNH HỮU- NGƯỜI BỘ HÀNH LẶNG LẼ   Trong làng thơ, Chính Hữu là một trường hợp đáng để nhiều người mơ ước. Tuy viết ít, bình quân mỗi năm chưa được một bài, nhưng thời kỳ nào ông cũng có bài hay. Khi còn rất trẻ, mới chân ướt chân ráo vào nghề ông đã có thơ hay. Ở tuổi sung sức, cần một sự thể hiện trách nhiệm bằng thơ, ông cũng có thơ hay. Và ở tuổi mãn chiều xế bóng, thơ ông vẫn còn hay. Thơ Chính Hữu có cái nghiêm ngắn của "nhà binh", nhưng không khuôn cứng. Nó vừa là cảm xúc, vừa là trí tuệ. Mặc dù rất kiệm lời nhưng đọc thơ Chính Hữu, ta vẫn thấy đậm hơi thở thời đại, đồng thời thấy được phần nào chân dung tác giả. Thơ Chính Hữu luôn cho ta cảm giác, đằng sau những con chữ là một người sâu sắc, kinh lịch việc đời. Tên tuổi Chính Hữu bắt đầu "nổi" kể từ khi ông gia nhập Trung đoàn Thủ đô và viết bài thơ "Ngày về" (năm 1947) để nhạc sĩ Lương Ngọc Trác phổ nhạc. Bài hát được biết đến rộng rãi đồng thời với việc phần lời của nó bị đem ra mổ xẻ, phê phán. Đây là đoạn thơ thường được nhắc đi nhắc lại như một ví dụ tiêu biểu về lối sáng tác mang hơi hướng tiểu tư sản, với cách dùng từ mỹ miều, xưa cũ: Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm Rách tả tơi rồi, đôi giày vạn dặm Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa. Không phải đoạn thơ bị phê phán vì vẽ lên hình ảnh người lính giày dép lươm bươm (các nhân vật trong bài thơ "Đồng chí" còn ăn mặc… hoàn cảnh hơn nhiều). Nó bị phê phán vì những chữ "chưa trắng nợ anh hùng", những chữ "giày vạn dặm", "bụi trường chinh" không hợp với tố chất, tâm lý của người lính thời đại mới, thậm chí nó còn gợi nhớ những nhân vật hảo hán trong các truyện kiếm hiệp của Tàu trước đây. Bản thân tác giả, ông cũng thấy ngượng bởi lối sáng tác có phần xa lạ với thực tại của cuộc kháng chiến (sau này,
     
    Gửi ý kiến